Nhồi máu cơ tim

  • Facebook
  • Google+
  • Email

Mai Anh Tuấn
Nguồn: wikipedia.org
dieutri.vn

  1. Định nghĩa
  2. Triệu chứng dấu hiệu
  3. Phân loại nhồi máu cơ tim
  4. Các yếu tố nguy cơ
  5. Biến chứng nhồi máu cơ tim cấp
  6. Tiên lượng nhồi máu cơ tim
  7. Chẩn đoán
  8. Điều trị

1. Định nghĩa

Nhồi máu cơ tim là một thể bệnh nặng của bệnh tim thiếu máu cục bộ, làm cho tim không được cung cấp oxy và chất dinh dưỡng đầy đủ khiến hoại tử một vùng cơ tim. Lúc khởi phát, nó mang tính cách một “tai biến mạch vành”, cần được xử trí khẩn trương tại bệnh viện, tốt nhất là tại ICCU (một đơn vị chăm sóc tích cực về mạch vành trong bệnh viện). Đại đa số hoại tử ấy đều liên quan huyết khối mới sinh gây tắc (một phần hoặc gần hoàn toàn) lòng động mạch vành ở tim.

Hình minh họa nhồi máu cơ tim
Nhồi máu cơ tim - Hình minh họa

2. Triệu chứng dấu hiệu

Biểu hiện thường gặp là đau ngực trái dữ dội, kéo dài hơn 15-30 phút. Đau có khi kèm vả mồ hôi và khó thở, mệt nhiều, không thể vận động nặng vì gia tăng cơn đau. Đau có thể lan ra cánh tay cẳng tay trái đến ngón út và áp út bàn tay trái, hoặc có thể lan sau lưng hoặc hàm dưới trái.

Đối với những người đã có tiền sử bệnh thiếu máu cơ tim, khi có cơn đau ngực dữ dội, sau khi sử dụng nitroglycerine hoặc isosrbide dinitrate (Risordane) vẫn không thuyên giảm thì cần phải tham vấn bác sĩ ngay

Một số người bị nhồi máu cơ tim có thể chỉ biểu hiện bằng khó thở nhẹ hay mệt khi vận động mà không đau ngực. Cho nên trong cuộc sống hàng ngày chúng ta vẫn có thể gặp những trường hợp chỉ than mệt trước đó vài giờ sau đó đột nhiên tử vong.

Triệu chứng cơ năng

Triệu chứng điển hình và thường gặp nhất của nhồi máu cơ tim là:

Đau ngực: hay gặp nhất, cảm giác đau sâu trong cơ thể với cảm giác đau như bị đè ép, bóp chặt ở giữa ngực, diễn ra trong khoảng 5–15 phút (khác về thời hạn và độ đau với cơn đau ngực thông thường), thường không quá 1 giờ.

Cơn đau có thể lan lên vai, cổ, hàm hoặc lan dọc theo cánh tay, đặc biệt là tay trái.

Các triệu chứng phụ như: vã mồ hôi, buồn nôn, chóng mặt, bất tỉnh, mệt nhọc, khó thở, tái nhợt, tim đập mạnh.

Nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim lại có biểu hiện không rõ ràng như tiêu chảy, đau bụng, hoặc không hề có triệu chứng (nhồi máu cơ tim thầm lặng – thường gặp ở các bệnh nhân bị tiểu đường), hoặc lại hết sức đột ngột, biểu hiện bằng biến chứng hôn mê, rối loạn nhịp tim, ngừng tim hay đột tử.

Triệu chứng thực thể

- Huyết áp: có thể tăng cao do hệ quả của việc tăng tiết catecholamine, hoặc có thể giảm thấp trong trường hợp suy tim nặng, shock tim.

- Mạch: có thể rất chậm hoặc rất nhanh.

- Tiếng tim: T1, T2 thường nhỏ, có thể có T3, T4, âm thổi cuối tâm thu ngắn. Âm thổi có thể nghe được ở mỏm tim.

- Tĩnh mạch cổ nổi: có thể thấy nếu nhồi máu cơ tim thất phải

- Nhiệt độ: thường tăng, khoảng 38oC trong tuần đầu.

- Rale phổi: có thể có rale ẩm đáy phổi.

3. Phân loại nhồi máu cơ tim

Định nghĩa nhồi máu cơ tim cấp quốc tế lần thứ III đã phân loại nhồi máu cơ tim thành các loại sau:

Loại 1: Nhồi máu cơ tim nguyên phát: Nhồi máu cơ tim nguyên phát do mảng xơ vữa dẫn tới hình thành cục máu đông trong lòng mạch vành kết quả làm giảm tưới máu làm hoại tử cơ tim.

Loại 2: Nhồi máu cơ tim thứ phát: Tổn thương hoại tử cơ tim do bệnh khác ngoài bệnh mạch vành gây mất cân bằng cung cầu oxy của cơ tim.

Loại 3: Nhồi máu cơ tim dẫn tới tử vong trong trường hợp không có kết quả men tim: Có thể chẩn đoán do đột tử thiếu máu cục bộ cơ tim hoặc block nhánh trái vừa xuất hiện nhưng đã tử vong ngay trước khi có thể lấy được mẫu máu hoặc trước thời điểm men tim tăng.

Loại 4a: Nhồi máu cơ tim do can thiệp động mạch mạch vành qua da (PCI)

Loại 4b: Nhồi máu cơ tim do huyết khối trong stent

Loại 5: Nhồi máu cơ tim do mổ bắc cầu mạch vành

Phân độ nhồi máu cơ tim cấp

Phân độ theo suy bơm thì Killip & Kimball đã lập bảng xếp loại phân ra 4 tầng I-IV nhằm tiên lượng mỗi NMCT cấp sau lần khám đầu tiên:

Bảng phân độ Killip nhồi máu cơ tim cấp

4. Các yếu tố nguy cơ

Tuổi và giới tính

Tuổi cao là yếu tố nguy cơ chính của bệnh mạch vành. Nguy cơ bệnh mạch vành do xơ vữa tăng theo tuổi, nguy cơ tử vong là 1,5/1000 người ở độ tuổi 50. Ở nam giới tuổi mắc bệnh mạch vành trung bình là 55, ở nữ giới là 65. Nam giới có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 5 lần nữ ở độ tuổi 50, càng về sau thì tỷ lệ này càng nhỏ lại. Đến 75 tuổi thì tần suất mắc bệnh ở nam và nữ như nhau.

Tiền sử gia đình

Gia đình có người mắc bệnh sớm trước 55 tuổi ở nam và 65 tuổi ở nữ. Bệnh mạch vành có thể di truyền được, tỷ lệ tim mạch ở người có tiền sử gia đình cao gấp 3-4 lần người không có tiền sử.

Hút thuốc lá

Thuốc lá liên quan đến cái chết của khoảng 5 triệu người, trong đó có 1,6 triệu người tử vong có liên quan đến tim mạch, chiếm đến 32%. Tỷ lệ người hút thuốc lá sẽ mắc bệnh mạch vành do xơ vữa tới 60%, tăng 50% số người hút thuốc tử vong do bệnh tim mạch. Hút thuốc lá gây gia tăng nồng độ carbon monoxide trong máu, dẫn tới phá hủy tế bào nội mô mạch vành, gia tăng kết tập tiểu cầu, tăng nguy cơ hình thành huyết khối tắc nghẽn. Hút thuốc lá là yếu đố nguy cơ không liên quan với các yếu tố khác.

Rối loạn mỡ máu

Nồng độ Cholesterol cao là nguyên nhân của 56% bệnh thiếu máu cơ tim, gây nên tử vong của khoảng 4,4 triệu người chết mỗi năm. Tăng LDL, tăng cholesterol, tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong do bệnh mạch vành. Giảm HDL gây gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch.

Mỡ trong máu lâu ngày hình thành mảng xơ vữa

Mỡ trong máu lâu ngày hình thành mảng xơ vữa

Đái tháo đường

Biến chứng tim mạch là biến chứng phổ biến và nguy hiểm nhất của bệnh đái tháo đường, gây gia tăng 50% nguy cơ bệnh mạch vành do xơ vữa ở nam, 100% ở nữ. Nguy cơ chết do bệnh mạch vành ở bệnh nhân có đái tháo đường không có tiền sử nhồi máu cơ tim tương đương với bệnh nhân từng bị nhồi máu cơ tim không có đái tháo đường. Bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch vành là nguyên nhân khiến 65% tử vong của bệnh đái tháo đường

Tăng huyết áp

Tăng huyết áp là bệnh lý thường gặp nhất trong các bệnh lý tim mạch, là nguyên nhân khiến cho 7 triệu người chết mỗi năm trên toàn thế giới, 49% các trường hợp bệnh mạch vành được quy cho là do tăng huyết áp. Mặc dù tăng huyết áp được định nghĩa khi huyết áp tâm thu lớn hơn 140 mmHg, nhưng Lawes và cộng sự nghiên cứu thấy có tới 50% có nguy cơ bệnh tim mạch khi huyết áp tâm thu ở mức dưới 145 mmHg. Huyết áp càng tăng thì nguy cơ bệnh mạch vành càng cao.

Ít vận động thể lực

Vận động thể lực vừa ít nhất 30 phút mỗi ngày, ít nhất 5 ngày trong tuần, đối với vận động mạnh thì ít nhất 20 phút mỗi ngày, ít nhất 3 ngày một tuần làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Người trưởng thành vận động thể lực thường xuyên thì khả năng mắc bệnh mạch vành giảm.

Béo phì trung tâm

Béo phì là một trong yếu tố nguy cơ chính của bệnh mạch vành, nguy cơ mắc bệnh xơ vữa mạch vành càng cao nếu béo phì chủ yếu ở phần bụng. Béo phì thường đi kèm với nhiều yếu tố nguy cơ khác như tăng huyết áp, rối loạn lipid, rối loạn dung nạp glucose. Người béo phì dễ mắc bệnh Đái tháo đường type 2 hơn so với người nhẹ cân.

Stress

Thái độ thù địch, trầm cảm, cô lập về mặt xã hội hay trạng thái căng thẳng kéo dài nguy cơ mắc bệnh động mạch vành. Những sang chấn tinh thần (những cú sốc lớn) là yếu tố khởi phát nhồi máu cơ tim

CRP (C-reative Protein)

tăng CRP cho thấy có giá trị dự báo các biến cố tim mạch. Đo CRP – hs có giá trị bổ sung cho việc lượng giá nguy cơ trong phòng ngừa tiên phát bệnh mạch vành, còn ở người có bệnh mạch vành thì đo CRP-hs có ý nghĩa dự báo biến cố tử vong. Có 3 mức nguy cơ bệnh mạch vành đối với nồng độ CRP-hs là: nguy cơ thấp (< 1 mg/L), nguy cơ trung bình (1–3 mg/L), nguy cơ cao (>3 mg/L) [1]. Gia tăng kết hợp giữa CRP và LDL gia tăng đáng kể nguy cơ tim mạch so với bệnh mạch vành.

Béo phì thuộc nhóm nguy cơ bị nhồi máu cơ tim

Béo phì thuộc nhóm nguy cơ bị nhồi máu cơ tim

viên bền mạch BAVETI_1

5. Biến chứng nhồi máu cơ tim cấp

Biến chứng cơ học: Thông liên thất do thủng vách liên thất, hở van 2 lá cấp do đứt dây chằng cột cơ, vỡ tim.

- Shock tim: thường do rối loạn chức năng thất trái nặng.

- Nhồi máu thất phải: thường gặp ở bệnh nhân nhồi máu vùng dưới.

- Suy tim: là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở nhồi máu cơ tim.

- Viêm màng ngoài tim: Viêm màng ngoài tim cấp xảy ra trong vòng 24 – 96 giờ sau nhồi máu cơ tim cấp. Hội chứng Dressler xảy ra từ 1-8 tuần sau nhồi máu cơ tim cấp, có thể do tự miễn.

Biến chứng điện học

- Rối loạn nhịp thất: các rối loạn nhịp thất nặng như rung thất và nhịp nhanh thất thường xuất hiện sớm trong 48 giờ đầu.

- Rối loạn nhịp trên thất: nhịp nhanh xoang, nhịp nhanh kịch phát trên thất, rung nhĩ.

- Rối loạn nhịp chậm: nhịp chậm xoang, block nhĩ thất.

6. Tiên lượng nhồi máu cơ tim

Trong nghiên cứu TIMI II, tạo thành thang điểm đánh giá nguy cơ tử vong của bệnh nhồi máu cơ tim trong 30 ngày. Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân trong 30 ngày có điểm TIMI < 4 điểm là 1%, trong khi đó TIMI > 8 là 8,8%.

thang điểm TIMI

thang điểm TIMI

7. Chẩn đoán

Vì nhồi máu cơ tim nguy hiểm đến tính mạng và diễn biến nhanh chóng, phương châm chẩn bệnh là tuyệt đối tránh bỏ sót. Bất cứ bệnh nhân nào tuổi trên 45, bị đau ngực (nhất là bên trái) hay khó thở và nhất là có các yếu tố nguy cơ trên, cần phải chứng minh không bị nhồi máu cơ tim trước khi nghĩ đến căn bệnh gì khác. Thường nên đưa vào bệnh viện để theo dõi.

Điện tâm đồ. Đoạn ST nâng lên trong phần II,III, AVF. Nhồi máu phần dưới cơ tim.

Chẩn đoán nhồi máu cơ tim:

Bệnh sử: đặc điểm của đau ngực

Kiểm tra: các biến đổi trên điện tâm đồ:

Nhồi máu cơ tim thường làm ST chênh lên và thay đổi sóng T. Sau khi cơ tim bị hủy thành sẹo, thường có biến đổi sóng Q. Điều cần biết là đôi khi bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim nhưng điện tâm đồ vẫn hoàn toàn bình thường. Dựa theo thay đổi của phần nào của điện tâm đồ có thể biết phần nào của tim bị nhồi máu (Zimetbaum & Josephson, 2003):

Vách tim trước (I21.0): V1-V4

Vách tim dưới (I21.1): II, III, F

Vách tim bên (I21.2): I, F, V5, V6

Vách tim sau (I21.2): V1, V2

Kiểm tra: các thay đổi về nồng độ men tim và troponin:

Khi cơ tim bị thiếu oxygen, màng tế bào của cơ bị rạn nứt và các chất bên trong cơ tim bị phóng thích vào máu. Nồng lượng trong máu của số chất đặc biệt của cơ tim ("men tim"Creatinine kinase (CK) và Troponin – dạng I hay T) có thể được dùng để chẩn đoán sự hủy hoại cơ tim. Điều cần biết là đôi khi mặc dầu bệnh nhân đang bị nhồi máu cơ tim nồng độ men tim có thể vẫn bình thường trong vài giờ đầu. Do đó, trong khi bệnh nhân nằm tại bệnh viện để theo dõi, điện tâm đồ và nồng độ men tim phải được lập lại sau 6–8 tiếng để xác định bệnh.

Kiểm tra: chụp động mạch vành (coronary angiogram):

Sẽ xác định được mạch nào bị nghẽn. Đây là cách chắc chắn nhất để xác định, định dạng và quyết định phương thức điều trị nhồi máu cơ tim. Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO, chẩn đoán xác định bệnh nhồi máu cơ tim phải có hai trong ba tiêu chuẩn sau:

Đau ngực thắt trên 20 phút

Thay đổi trên một loạt 2 (hoặc 3) điện tâm đồ (cách nhau vài tiếng)

Men tim tăng (rồi giảm)

8. Điều trị

Nguyên tắc chính của điều trị là đưa oxygen tới phần cơ tim đang bị tiêu hủy vì mạch nghẽn.

Cấp cứu

Bệnh nhân có triệu chứng đau thắt ngực cần được điều trị trong phòng cấp cứu.

Dưỡng khí oxygen

Điện tâm đồ

Aspirin: thuốc này có cộng dụng làm loãng máu và làm giảm sự tăng trưởng của cục máu đông.

Glyceryl trinitrate: thuốc này có thể cho vào dưới lưỡi bệnh nhân – có nhiều tác dụng: làm thư giãn mạch máu (tăng đường mạch máu dễ cho máu đi qua chỗ nghẽn, giảm lượng máu trở về tim phải (bớt công việc cho tim – preload), giảm huyết áp (dễ cho tim thất trái bơm máu ra – afterload)

Giảm đau: Morphine có thể dùng để chống đau, làm bệnh nhân bớt sợ hãi (giảm adrenaline giảm độ nhịp tim, bớt công việc cho tim)

Theo dõi biến chứng: loạn nhịp tim, thay đổi huyết áp

Làm thông động mạch vành tim

Điều trị nội khoa: thuốc làm tan cục máu đông (thrombolysis): streptokianse, urokinase...trong giai đoạn cấp cứu, điều trị duy trì chống cục máu đông bằng Asprin hoặc Vasopolis (trong trường hợp dị ứng với Aspirin hoặc ở những bệnh nhân loét dạ dày, hành tá tràng)

Điều trị ngoại khoa: thò ống thông xuyên qua động mạch đùi đi vào động mạch vành tim, làm nong mạch, phá vỡ cục máu đông và mảng xơ vữa, đồng thời có thể nhét ống căng mạch (cardiac catherization & angioplasty +/- stent).

Giải phẫu ghép động mạch tim

Mục đích của phẫu thuật này tiếp tế máu cho phần tim đang bị thiếu máu do động mạch khu vực bị nghẽn

Tĩnh mạch từ chân bệnh nhân được cắt lấy và đem lên nối từ động mạch chủ vào phần động mạch phía sau khúc bị nghẽn.

Theo dõi

Sau khi qua giai đoạn hiểm nghèo ban đầu của nhồi máu cơ tim, bệnh nhân cần nằm một thời gian (2–3 ngày) trong đơn vị điều trị tim hoặc đơn vị điều trị tăng cấp đề phòng để chữa kịp thời những biến chứng như loạn nhịp tim.

Trong thời gian hồi phục sau khi xuất viện, bệnh nhân nên tránh hoạt động quá sức, mang vác vật nặng... khoảng một vài tháng, tránh hồi hộp, căng thẳng, xúc động mạnh (không xem bóng đá, phim kinh dị...). Duy trì Vasopolis ở những bệnh nhân mẫn cảm với thuốc chống đông khác.

Thường xuyên tái khám theo dõi và tra cứu xét nghiệm thêm.

Phòng ngừa biến chứng khác

Đa số bệnh nhân sẽ phải tiếp tục dùng thuốc điều trị tránh bị nhồi máu cơ tim lần nữa và những bệnh tương tự như tai biến mạch máu não.

- Aspirin liều thấp, cần theo dõi tác dụng phụ trên đường tiêu hóa (loét dạ dày, tá tràng, rối loạn tiêu hóa), những trường hợp mẫn cảm với Aspirin có thể dự phòng bằng các sản phẩm giúp phòng nhồi máu cơ tim khác (Vasopolis)

- Clopidogrel: Thuốc chống kết tập tiểu cầu ngăn ngừa sự hình thành máu đông, thường kết hợp với Aspirin.

- Thuốc ngăn Beta: làm giảm huyết áp, làm giảm nhịp tim, giảm co bóp thắt, giảm nhu cầu sử tiêu oxy của tim

- Thuốc ngăn ACE: là những thuốc ức chết men chuyển đổi Anglotensin (viết tắc là chất ức chế ACE) thường được sử dụng để ức chế sự hình thành hormon Anglotensin II tiềm tàng. Captopril là một ví dụ của chất ức ACE.

- Thuốc giảm mỡ máu: làm giảm nồng độ mỡ trong máu, giảm việc hình thành xơ vữa động mạch.

Nho đen có tác dụng chống Oxy hóa

Nho đen có tác dụng chống Oxy hóa, chống huyết khối, hạ đường huyết

Theo tài liệu cũ từ năm 2002 của WHO, có khoảng 13% dân số trên toàn thế giới tử vong do nhồi máu cơ tim, tỷ lệ này không ngừng tăng lên theo từng năm. Riêng tại Mỹ, cứ 5 trường hợp tử vong lại có 1 trường hợp do tim mạch. Riêng ở Ấn Độ, tỷ lệ này lên đến trên 30%. Ở Việt Nam, số người mắc bệnh tim mạch hàng năm tăng khá nhanh, mỗi năm tăng từ 15 - 20% so với năm trước. Nguyên nhân hàng đầu của bệnh nhồi máu cơ tim chính là do xơ vữa động mạch. Vì vậy, phải điều chỉnh chế độ ăn uống hạn chế chất béo, ăn nhiều chất xơ và rau xanh, thường xuyên luyện tập thể dục, giảm cân tránh béo phì. Thường xuyên kiểm soát chặt chẽ huyết áp, mỡ trong máu, đường huyết trong giới hạn cho phép bằng cách dùng thêm các thuốc hỗ trợ chống kết tập tiểu cầu, hạ mỡ máu, giảm huyết áp, giảm đường huyết như Resveratrol có tác dụng chống oxy hóa, chống huyết khối, hạ đường huyết. Resvertratrol có nhiều trong nho hoặc rượu vang đỏ. Chính vì vậy tỷ lệ người Pháp bị các bệnh về tim mạch thấp nhất thế giới. Hay Hesperindin trong Trần Bì và Polyphenol có trong tinh chất Trà Xanh giúp cho hạ mỡ máu, giảm cholesterol và triglycerid trong máu, thủ phạm gây ra xơ vữa động mạch. Bên cạnh đó vẫn cần dùng thêm các loại thực phẩm có chứa Nattokinase như Đậu Tương để chống huyết khối, tăng cường lưu thông máu để phòng ngừa tắc mạch vành tim.

viên bền mạch BAVETI

Hỏi Đáp / Tư Vấn

Tư vấn hỏi đáp cùng chuyên gia sức khỏe tuần hoàn

Thông tin hỏi đáp, tư vấn Sức khỏe chuyên khoa nhằm giúp Phòng ngừa và hỗ trợ điều trị các vấn đề liên quan đến Sức Khỏe Tuần Hoàn.

Đặt Câu Hỏi